Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya

Hồng Em Thương… Hôn Em Trong Giấc Mơ. Những Lá Thư Người Vợ Tưởng Là Lá Cuối

Cuối năm bảy mươi chín, ở Hà Tĩnh, có một người đồng hương ghé nhà, đem trả lại một cái ba lô. Trong ba lô có giấy tờ, có mấy lá thư, có cuốn nhật ký. Người chủ cái ba lô đó, mấy năm trời viết thư về nhà, lá nào cũng mở đầu bằng "Hồng em thương!". Và người vợ trẻ tên Hồng cầm cái ba lô của chồng, tin rằng chồng mình đã không còn nữa.

Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Đêm nay mình kể bạn nghe chuyện những lá thư tình đi qua bom đạn. Trong chuyện có một câu hẹn ngày chiến thắng, một câu kết thư mà mình đọc xong cứ lẩm bẩm hoài, và một mùa hè mà người vợ đi một mạch vô Nam.

Ông tên Trần Dân. Năm mười chín tuổi, ông làm thư ký đội sản xuất ở hợp tác xã trồng chè Sơn Thọ, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Bà tên Trần Thị Hồng, cũng là xã viên hợp tác xã đó. Hai người thương nhau từ hồi đó.

Năm bảy mươi bốn, chưa có lệnh gọi, ông đã tình nguyện đi bộ đội. Trước khi đi, nhà ông qua nhà bà thưa chuyện. Lúc chia tay, ông nói: "Ngày chiến thắng, anh sẽ trở về cưới em." Bà trả lời: "Anh yên tâm lên đường, khó khăn, gian khổ thế nào, em vẫn chờ."

Ông được huấn luyện chừng một tháng, rồi vô Trung đoàn hai trăm bảy mươi ba, Sư đoàn ba trăm bốn mươi mốt. Đầu năm bảy mươi lăm, đơn vị hành quân vô miền Đông Nam Bộ.

Ngày ba tháng hai năm bảy mươi lăm, ông viết lá thư đầu tiên. Mấy tháng sau thư mới tới tay bà. Bà kể: "Thời chiến, không có gì quý bằng được người yêu, chồng gửi thư về." Bà viết thư trả lời, nói mình sắp đi học sư phạm ở Nghệ An.

Mà cái mình thương nhất trong chuyện này là cách ông viết thư. Báo kể, gần như lá nào ông cũng mở đầu bằng "Hồng em thương!", và kết bằng một câu: "Hôn em trong giấc mơ."

Bạn đọc lại câu đó coi. Hôn em trong giấc mơ. Một anh lính mới hai mươi tuổi, ở giữa chiến trường, không biết mai còn sống không, chỉ dám hôn người yêu trong giấc mơ. Mà ổng viết ra, gửi về, cho người ta biết là đêm nào ổng cũng mơ thấy người ta.

Ông đi qua Dầu Tiếng, Bến Cát, Bàu Bàng, Xuân Lộc. Đầu giờ chiều ngày ba mươi tháng tư, ông có mặt ở Dinh Độc Lập.

Hòa bình rồi. Mà ông chưa về được. Tháng năm năm đó, ông viết một lá thư, hỏi bà một câu thiệt lòng: "Em phải xác định rằng, anh có thể còn phải xa em năm, sáu năm nữa, thì liệu em có thể chờ đợi được anh không?"

Bà chờ.

Rồi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Ông lại đi. Thư từ Tây Ninh gửi về vẫn kiểu dặn bà đừng lo: "Sức khỏe của anh rất tốt, đơn vị của anh không ở Long Bình nữa."

Đầu năm bảy mươi tám, ông được về phép. Hai người ra ủy ban xã đăng ký kết hôn, làm đám cưới đơn giản. Ở với nhau được ít ngày, ông lại lên đường.

Tháng bảy năm bảy mươi tám, trong một trận ở Thạch Động, Hà Tiên, ông bị thương ở đầu.

Và rồi tới cái bữa cuối năm bảy mươi chín đó. Người đồng hương đem về cái ba lô, giấy tờ, thư, nhật ký. Bà tin chồng đã hy sinh. Bà ngã quỵ. Bà khóc ba tháng trời, khóc tới rụng hết tóc. Cha mẹ chồng thương con dâu, nói với bà một câu mà mình đọc thấy thắt ruột: "Con đau mười phần, cha mẹ cũng đau chín."

Nhưng ông chưa chết.

Mùa hè năm tám mươi, bà vô Nam thăm chồng, mới biết ông còn sống, đang đi học ở trường Quân chính. Ông xanh xao, gầy rộc. Hai vợ chồng ôm nhau mà khóc. Bà nói với ông: "Anh cũng biết tôi vì nhớ thương, khóc chồng mà tóc rụng, mặt hốc hác." Ông kể, ông bị thương, rồi đi làm nhiệm vụ đặc biệt, nên không viết thư về được.

Mình nghĩ tới cái bà Hồng của mùa hè năm đó. Ba tháng khóc tới rụng tóc. Rồi đứng trước mặt chồng, câu đầu tiên bà nói không phải giận, mà là kể cho ông nghe mình đã nhớ ông tới cỡ nào.

Ông ở trong quân ngũ mười sáu năm, trong đó bảy năm đánh trận liên tục, là thương binh. Hai ông bà có ba người con, sáu đứa cháu. Năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, ông sáu mươi tám, bà sáu mươi sáu, sống ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Bảo tàng Quân đoàn bốn xin giữ lại bốn lá thư ông viết để trưng bày. Ông nói: "Chúng tôi hy vọng những lá thư đó sẽ giúp thế hệ sau biết được cha ông đã vất vả, hy sinh như thế nào."

Bây giờ người ta nhắn tin cho nhau cả trăm cái một ngày, gõ cái là tới. Còn hồi đó, một lá thư đi mấy tháng mới tới, mà có khi tới rồi người viết đã không còn. Vậy mà ông Dân vẫn viết, lá nào cũng như lá đầu: Hồng em thương. Hôn em trong giấc mơ.

Nếu đêm nay bạn đang thương ai ở xa, thì viết cho người ta một cái gì đó đi nghen. Không cần dài. Không cần hay. Chỉ cần có tên người ta ở đầu, và một câu cho người ta biết đêm nay mình nhớ người ta. Có những câu như vậy, người ta giữ được cả đời.

Chuyện ông Dân bà Hồng là chuyện thật, báo Dân Trí kể lại hồi tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi ba.