Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Anh muốn cưới em về làm vợ, được không?
Mùa thu năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, có một người lính đạp xe đạp tới nhà một người phụ nữ cùng quê. Không có ông mai bà mối nào đi theo. Không mang lễ vật gì. Hai người ngồi nói chuyện với nhau chưa tới ba phút. Rồi người lính hỏi một câu rất thẳng: "Anh muốn cưới em về làm vợ, được không?" Và người phụ nữ ấy gật đầu.
Nghe thì giống chuyện trong phim. Nhưng trong câu chuyện này có hai người đã khuất, một nén nhang thắp suốt mấy chục năm cho người không phải của mình, và một câu trả lời mà chính người trong cuộc nói ra rất giản dị, giản dị đến mức làm mình lặng đi. Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Đêm nay, mình kể bạn nghe một chuyện tình có thật, được báo Sài Gòn Giải Phóng ghi lại.
Người lính ấy tên là Lê Trường Giang, sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn. Tháng tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi bốn, ông cưới người bạn từ thuở nhỏ là bà Hà Thị Vỵ. Đám cưới đơn sơ lắm, không áo cưới, không tiệc tùng. Hai đứa qua lại ăn bữa cơm ở nhà nhau là thành vợ thành chồng. Cưới nhau được mấy tháng, ông xung phong đi bộ đội. Trước lúc đi, ông dặn vợ ở nhà chăm sóc cha mẹ già giùm, và nhớ viết thư cho ông.
Bà Vỵ có viết. Nhưng những lá thư ấy không bao giờ tới được tay chồng. Đơn vị di chuyển liên tục, tin tức phải giữ bí mật, người ở nhà không biết người đi đang ở đâu, người đi cũng chẳng biết ở nhà ra sao.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba, khi vẫn còn ở chiến trường, ông Giang mới nhận được tin. Vợ ông đã mất từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, khi bà tham gia phong trào lao động ở địa phương. Năm ấy bà mới hai mươi lăm tuổi, để lại một đứa con chưa đầy ba tuổi. Còn ông, đúng năm ấy, đang đánh trận Mậu Thân ở Sài Gòn. Vợ mất năm năm rồi, chồng mới hay.
Bạn thử nghĩ coi. Năm năm trời, người lính ấy vẫn nhớ về một người vợ đang chờ mình ở quê. Vẫn mang theo lời dặn viết thư. Mà người để nhớ đã không còn nữa.
Ở một nhà khác trong cùng làng quê ấy, có một cô gái tên Nguyễn Thị Lan, sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi. Tháng chín năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt, cô cưới anh Nguyễn Phi Hà trong một lần anh được về phép. Vài tháng sau, anh vào mặt trận Lào. Tháng hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai, anh hy sinh. Tới bây giờ, hài cốt anh vẫn chưa tìm thấy.
Mất chồng khi mới cưới chưa được nửa năm, cô Lan không về nhà mình. Cô ở lại với cha mẹ chồng, với các em chồng, làm tròn bổn phận của một người con dâu. Ba năm như thế, lặng lẽ, chẳng ai bắt cô phải làm.
Rồi hòa bình. Ông Giang được phân công ở lại làm công tác quân quản ở Sài Gòn. Lúc ấy ông chưa nghĩ gì tới hạnh phúc của riêng mình. Mùa thu năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, ông được về phép. Về tới nhà, ông thấy cha mẹ đã già, và đứa con gái nhỏ thiếu mẹ, gầy yếu.
Trong một lần đi thăm bà con, ông tình cờ gặp lại cô Lan. Hàng xóm kể cho ông nghe về người con dâu ấy, mấy năm trời ở lại nuôi cha mẹ chồng, làm lụng vất vả mà không một lời than.
Thế là có một lần ông đạp xe tới nhà cô. Có ba phút nói chuyện. Có câu hỏi: anh muốn cưới em về làm vợ, được không. Và có cái gật đầu.
Sau này, khi phóng viên hỏi vì sao bà nhận lời nhanh như vậy, bà Lan chỉ nói: "Cùng cảnh ngộ, một người mất vợ, một người mất chồng đều vì chiến tranh nên tôi đồng ý."
Mình đọc câu ấy nhiều lần. Không có chữ yêu nào trong đó cả. Nhưng có một thứ còn sâu hơn: hai người hiểu nhau từ trong nỗi mất mát. Người ta đâu cần nói nhiều với một người đã đi qua đúng cái đau của mình.
Cưới nhau xong, ông Giang ở nhà được hơn một tháng rồi trở lại đơn vị. Mười lăm năm sau đó, ông rất ít khi có mặt ở nhà. Một mình bà Lan gánh hết. Bà chăm cha mẹ chồng. Bà nuôi đứa con gái riêng của chồng như con ruột. Bà làm ruộng, làm công tác hội phụ nữ ở địa phương. Hai ông bà có thêm bốn người con nữa. Về sau, cả gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống.
Đứa con gái nhỏ thiếu mẹ năm nào, lúc đầu học hành vất vả lắm. Vậy mà rồi em vượt qua, trở thành một nữ quân y, nghỉ hưu với quân hàm trung tá. Người mẹ nuôi em lớn, là bà Lan.
Còn ông Giang, hơn hai mươi năm sau chiến tranh, ông đi khắp các chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, góp phần đưa hàng nghìn liệt sĩ trở về với gia đình. Bà Lan ủng hộ ông hết lòng. Căn nhà của hai ông bà thành chỗ đón những cựu chiến binh, những thân nhân liệt sĩ từ xa tới. Có lần nhà đón cả một cựu chiến binh ngoài Bắc đang bệnh nặng.
Nhưng chi tiết khiến mình nhớ nhất trong cả câu chuyện, lại là một chuyện rất nhỏ trong nhà.
Mấy chục năm nay, bà Lan vẫn thắp nhang cho bà Vỵ, người vợ đầu của chồng. Đến ngày giỗ, bà tự tay nấu mâm cơm cúng. Và mỗi năm, bà gửi tiền về quê, để bên nhà anh Hà, người chồng đầu của bà, có cái làm giỗ cho anh.
Bạn biết không, mình đã nghe nhiều chuyện tình. Có chuyện tình đẹp vì người ta giữ được nhau. Nhưng chuyện của ông Giang bà Lan đẹp theo một cách khác. Hai người không quên những người đã khuất để yêu nhau. Hai người yêu nhau, và cùng nhau nhớ thương những người đã khuất.
Trong ngôi nhà ấy, có chỗ cho người đang sống, và có chỗ cho người đã đi xa. Không ai phải ghen với ký ức của ai. Không ai bắt ai phải quên.
Có lẽ, tình yêu của những người đi qua chiến tranh là như vậy. Nó không ồn ào. Nó không cần hoa, không cần lời hứa. Nó là ba phút trên chiếc xe đạp, một cái gật đầu, rồi mấy chục năm cùng nhau gánh vác, cùng nhau thắp nhang, cùng nhau nhớ.
Nếu đêm nay bạn đang thương một người từng có quá khứ, từng mất mát, thì mình mong bạn nhớ tới bà Lan. Thương một người, đôi khi là thương luôn cả những gì người ấy đã đi qua.