Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Sáng nay cây bẹo không treo trái khóm
Năm giờ sáng.
Chợ nổi Cái Răng vừa thức dậy trong sương.
Hàng trăm chiếc ghe đậu sát nhau giữa sông, cây bẹo dựng thẳng trên mũi ghe, treo đủ thứ trái cây để người mua nhìn từ xa là biết ghe nào bán gì.
Ghe thì treo bí đỏ, ghe treo củ sắn, ghe treo chùm chôm chôm đỏ au.
Riêng ghe khóm nhà bà Tư, sáng hôm đó, cây bẹo không treo trái khóm nào.
Chỉ treo một cái tô hủ tiếu.
Một cái tô sứ trắng, viền xanh, buộc bằng sợi dây cói, đung đưa trong gió sớm.
Cả chợ nhốn nháo.
Mấy bà bán bưởi đứng dậy ngó, mấy ông lái ghe gạo bật cười, có người hỏi vọng qua, ghe bà Tư hôm nay đổi nghề bán hủ tiếu hả.
Còn ở phía xa, trên một chiếc xuồng nhỏ đang chèo về hướng bến Ninh Kiều, có một chàng trai dừng tay chèo.
Trên xuồng anh không còn nồi nước lèo, không còn rổ rau, không còn chồng tô.
Chỉ có một cái ba lô, và một vé xe đi Sài Gòn chuyến bảy giờ.
Anh đứng sững giữa sông, nhìn cái tô hủ tiếu trên cây bẹo.
Cô gái bán khóm muốn nói gì với cái tô ấy?
Và vì sao, người bán hủ tiếu quen mặt nhất chợ nổi, lại lặng lẽ bỏ đi đúng sáng hôm nay?
Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, ngồi nghe mình kể nhé.
Lâm hai mươi bảy tuổi.
Anh bán hủ tiếu trên chợ nổi từ năm mười tám, trên chiếc xuồng ba lá ba anh để lại.
Mỗi sáng, anh dậy từ ba giờ, nấu nồi nước lèo bằng xương heo hầm từ đêm trước, chất lên xuồng cái bếp than nhỏ, chồng tô, rổ rau, bó hủ tiếu.
Rồi anh chèo ra chợ, len lỏi giữa những chiếc ghe to, rao một tiếng dài: hủ tiếu đây.
Ai gọi, anh cột xuồng vào mạn ghe người ta, trụng hủ tiếu, chan nước lèo, đưa lên bằng hai tay.
Cả chợ nổi gọi anh là thằng Lâm trí nhớ.
Vì anh nhớ hết khẩu vị của từng người.
Ông Sáu ghe gạo ăn không hành.
Bà Bảy ghe bưởi ăn nhiều giá, ít bánh.
Thằng Tí con ghe bí ăn thêm trứng, mà mẹ nó không cho biết.
Và cô Ngân ghe khóm, ăn tô nhỏ, nhiều nước, thêm một muỗng ớt sa tế, không bao giờ ăn hết cọng rau răm cuối cùng.
Ngân hai mươi bốn tuổi, theo má bán khóm trên ghe từ hồi còn đi học.
Ba cô mất sớm, ghe khóm là cả gia tài của hai má con.
Cô nhỏ người, nói nhanh, cười giòn, cãi giá với lái buôn không ai lại.
Nhưng mỗi sáng, khi chiếc xuồng hủ tiếu cột vào mạn ghe nhà cô, cô lại ít nói hẳn.
Cô ngồi trên mạn ghe, hai chân thả xuống nước, cầm tô hủ tiếu ăn chậm rãi.
Lâm ngồi dưới xuồng, cắt khóm cô đưa xuống, vừa ăn vừa nói chuyện trời mưa trời nắng.
Tô hủ tiếu năm ngàn, Ngân không bao giờ trả tiền.
Cô trả bằng khóm.
Một trái khóm ngọt nhất ghe, gọt sẵn, cắt sẵn, bày vào cái dĩa nhựa xanh.
Hai người cứ đổi chác như vậy suốt sáu năm.
Không ai nói ra, mà cả chợ ai cũng biết.
Có một sáng mùa nước, sương dày tới mức đứng mũi ghe không thấy lái ghe.
Lâm chèo lạc, xuồng va vào một khúc cây trôi, lật nghiêng.
Nồi nước lèo đổ ào xuống sông, chồng tô vỡ loảng xoảng.
Anh bám được mạn xuồng, ướt sũng, đứng giữa nước nhìn cả buổi bán hàng trôi đi.
Ghe khóm nhà bà Tư đậu gần đó.
Ngân nghe tiếng động, chồm ra mạn ghe, thấy anh, la lên một tiếng rồi nhảy luôn xuống xuồng con, chèo ra.
Cô kéo anh lên, kéo luôn chiếc xuồng lật về cột vào ghe nhà mình.
Má Tư lấy khăn cho anh lau, rót cho anh ly trà gừng nóng.
Ngân ngồi bên cạnh, mặt còn tái, tay còn run.
Cô nói, anh làm em sợ muốn chết.
Rồi cô đỏ mặt, quay đi, giả bộ đi lấy thêm khăn.
Sáng hôm đó, Lâm không bán được tô nào.
Nhưng anh về nhà, ngồi nhìn cái nồi nước lèo trống trơn, mà cười suốt buổi.
Mấy ngày sau, anh ra chợ mua lại chồng tô mới, tô nhựa, rẻ tiền.
Ngân cầm cái tô nhựa, xoay xoay, nhăn mặt.
Cô hỏi, cái tô có vết mẻ của em đâu rồi.
Anh nói, chắc trôi theo con nước rồi, tìm không được.
Cô không nói gì, chỉ cúi xuống ăn, mà hôm đó ăn hết luôn cọng rau răm cuối cùng.
Lâm để ý, mà không hiểu vì sao.
Lâm thương Ngân, mà không dám nói.
Anh nghĩ tới căn nhà sàn xiêu vẹo của mình ven sông, tới chiếc xuồng cũ ba để lại, tới tiền lời mỗi ngày chỉ đủ mua gạo và xương hầm nước lèo cho sáng hôm sau.
Anh nghĩ, Ngân đáng được một người có ghe lớn hơn, có nhà vững hơn.