Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Mười lăm năm đi tìm một câu hát ru
Mười giờ đêm, sương xuống dày tới mức Đăng không nhìn thấy bàn tay mình.
Anh đứng giữa một bờ ruộng bậc thang, trên lưng chừng núi.
Phía trước là sương.
Phía sau là sương.
Bên trái là một khoảng tối sâu hun hút mà anh biết, chỉ cần bước lệch một bước là trượt xuống thửa ruộng bên dưới.
Điện thoại tắt nguồn từ một tiếng trước.
Đèn pin cũng hết pin.
Anh đứng im, lạnh run, nghe tim mình đập thình thịch giữa tiếng gió.
Rồi từ đâu đó trong màn sương, vang lên một giọng con gái.
Không gọi tên ai.
Chỉ hát.
Một câu hát ru chậm rãi, lên xuống như sóng lúa, ngân dài ở cuối câu.
Đăng đứng sững.
Anh biết câu hát này.
Mười lăm năm nay, anh đã hỏi không biết bao nhiêu người, mở không biết bao nhiêu bản ghi âm, để tìm lại đúng câu hát này.
Người đang hát trong sương là ai?
Và vì sao một người đàn ông ba mươi tuổi, lại đứng giữa núi rừng mà khóc như một đứa trẻ khi nghe thấy nó?
Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, ngồi nghe mình kể nhé.
Đăng ba mươi tuổi, người Hà Nội, làm kiến trúc sư cho một công ty lớn.
Ba năm liền, anh làm việc mười bốn tiếng mỗi ngày, ăn trưa trước màn hình, ngủ gục trên bàn làm việc.
Rồi một sáng, anh ngồi dậy mà không đứng lên được.
Bác sĩ nói anh không có bệnh gì nặng, chỉ là kiệt sức.
Bác sĩ dặn, anh cần nghỉ, nghỉ thật sự, ở một nơi không có tiếng còi xe.
Đăng xin nghỉ không lương ba tháng.
Anh chọn Sa Pa.
Không phải vì Sa Pa đẹp, dù Sa Pa đẹp thật.
Mà vì một ký ức anh chưa từng kể với ai.
Năm Đăng mười lăm tuổi, cả nhà lên Sa Pa chơi vào dịp lúa chín.
Một buổi chiều, anh bỏ đoàn, đi lạc vào một con đường mòn giữa ruộng bậc thang.
Sương xuống nhanh, trời tối sập.
Anh khóc, gọi ba mẹ, không ai trả lời.
Rồi có một bé gái chừng mười tuổi, mặc váy xòe, đeo cái gùi nhỏ sau lưng, xuất hiện từ trong sương.
Bé không nói được tiếng Kinh nhiều, chỉ nắm tay anh, kéo đi.
Suốt đường đi, bé hát.
Một câu hát ru, chậm rãi, lên xuống như sóng lúa.
Anh không hiểu lời, nhưng nghe giọng bé, tự nhiên thấy hết sợ.
Bé dắt anh tới một khúc đường đất có ánh đèn, rồi chỉ tay về phía trước.
Ba mẹ anh đang đứng đó, cầm đèn pin, gọi tên anh khản cả giọng.
Anh chạy tới, ôm mẹ.
Lúc quay lại cảm ơn, bé gái đã biến mất vào màn sương.
Trên mu bàn tay anh, còn một vết xước dài, do bị gai cào lúc bé kéo anh qua bụi rậm.
Vết sẹo đó, mười lăm năm sau vẫn còn, mờ mờ, như một sợi chỉ trắng.
Và câu hát ru đó, mười lăm năm sau anh vẫn nhớ từng nốt.
Chỉ là không biết lời, không biết tên, không biết người.
Ở Sa Pa, Đăng ở trọ trong một homestay nhỏ dưới thung lũng.
Chủ nhà là một gia đình người H'Mông.
Bà nội đã ngoài bảy mươi, tóc quấn khăn, tay vẫn đều đặn se lanh mỗi tối bên bếp lửa.
Cô cháu gái tên Mỷ, hai mươi lăm tuổi, lo việc đón khách, nấu ăn, dẫn khách đi bộ qua các bản.
Mỷ nói tiếng Anh giỏi, tiếng Kinh rành rọt, buổi tối còn học thêm một khóa quản lý du lịch qua mạng.
Cô điều hành một nhóm chị em trong bản dệt vải lanh, nhuộm chàm, làm hàng thủ công gửi xuống Hà Nội bán.
Ngày đầu tiên, Đăng xuống dốc mà trượt chân, ngồi bệt xuống bùn.
Mỷ đứng nhìn, không cười, chỉ đưa tay kéo anh dậy, nói một câu bằng giọng rất nghiêm.
"Người thành phố đi đường núi, phải nhìn chân mình, đừng nhìn điện thoại."
Đăng đỏ mặt.
Anh cất điện thoại vào ba lô.
Lần đầu tiên sau ba năm.
Cuối tuần, Mỷ gùi vải lanh ra chợ phiên dưới thị trấn, Đăng xin đi theo xách đồ.
Chợ đông, tiếng nói cười đủ thứ tiếng, mùi khói bếp, mùi thắng cố, mùi ngô nướng lẫn vào nhau.
Mỷ bày vải ra tấm bạt, ai hỏi giá cô cũng trả lời nhỏ nhẹ, không nài, không ép.
Trưa đó trời đổ mưa, hai người ngồi nép dưới mái hiên một sạp hàng.