Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya

Mưa Huế năm ấy, em đã nói dối anh

Chiều đó, Huế mưa.

Mưa dầm dề, mưa không ngớt, mưa như đã rơi từ hai mươi lăm năm trước tới giờ chưa tạnh.

Trong gian nhà khách của một ngôi chùa nhỏ trên đồi thông, có hai người ngồi đối diện nhau.

Một người đàn ông năm mươi tuổi, tóc đã điểm bạc, áo sơ mi còn ướt vai.

Một ni cô áo nâu, đầu cạo trọc, đôi tay gầy đang rót trà vào hai cái chén nhỏ.

Giữa hai người, trên mặt bàn gỗ, là một cây dù màu tím.

Cây dù đã bạc màu, cán gỗ đã mòn, và có một nan bị gãy, được ai đó buộc lại cẩn thận bằng sợi chỉ đỏ.

Người đàn ông nhìn cây dù, giọng nghẹn lại.

"Em vẫn giữ nó."

Ni cô đặt chén trà trước mặt anh, mỉm cười, nụ cười hiền như mặt sông Hương buổi sớm.

"Thí chủ uống trà đi, kẻo nguội."

Hai mươi lăm năm trước, người con gái ấy hát ca Huế trên sông Hương mỗi tối, và đã nói với anh một câu lạnh tới buốt lòng: em không thương anh.

Vì sao cô ấy lại chọn khoác áo nâu sồng?

Và cây dù tím gãy một nan kia, đã giữ giùm cô điều gì suốt hai mươi lăm năm?

Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, ngồi nghe mình kể nhé.

Năm đó là năm cuối cùng của thế kỷ cũ.

Phong hai mươi lăm tuổi, kiến trúc sư trẻ ở Sài Gòn, được cử ra Huế giúp trùng tu một ngôi nhà rường cổ ở làng Kim Long.

Anh ra Huế vào đầu tháng Chín, khi mùa mưa vừa chớm.

Người Sài Gòn quen mưa rào, mưa ào một trận rồi tạnh, nắng lại chang chang.

Phong không ngờ mưa Huế khác hẳn.

Mưa lất phất cả ngày, mưa rả rích cả tuần, mưa tới mức áo phơi ba hôm không khô.

Chiều đầu tiên, anh đi bộ từ nhà rường ra bến sông, mưa đổ xuống bất chợt.

Anh không mang dù, đứng nép dưới mái hiên một quán nước nhỏ, áo ướt sũng.

Một cô gái từ trong quán bước ra, cầm một cây dù màu tím.

Cô mặc áo dài trắng, tóc dài ngang lưng, giọng Huế nhẹ như gió.

"Anh không phải người ở đây hè? Mưa Huế không tạnh mô, anh đứng chờ tới tối cũng rứa."

Cô đưa cây dù cho anh.

Anh ngại, hỏi vậy còn cô thì sao.

Cô cười, chỉ ra bến sông, nói, em ra thuyền, gần đây thôi, chạy một chút là tới.

Rồi cô chạy đi, hai tay che đầu, tà áo trắng bay trong mưa.

Phong đứng cầm cây dù tím, nhìn theo, quên cả che.

Tối đó, anh ra bến sông trả dù.

Bến có mấy chiếc thuyền rồng neo sát nhau, treo đèn lồng đỏ, khách du lịch ngồi kín.

Trên một chiếc thuyền, có tiếng đàn tranh, tiếng nguyệt, và một giọng hát.

Giọng hát ngân dài, buồn mà trong, như sợi khói bay trên mặt nước.

Phong đứng trên bến, nghe hết một bài, rồi bài nữa.

Anh không hiểu hết lời, chỉ thấy lòng mình chùng xuống, như có ai vừa chạm tay vào.

Hết buổi, cô gái bước lên bờ, thấy anh, bật cười.

"Anh đứng nghe chùa hả? Phải mua vé đó nghe."

Anh đưa trả cây dù, nói cảm ơn.

Cô lắc đầu, nói anh cứ giữ, mùa mưa còn dài, người Sài Gòn ra Huế không có dù là ướt tới Tết.

Cô tên Nhã, hai mươi mốt tuổi, ban ngày phụ mẹ bán chè ở chợ Đông Ba, tối hát ca Huế trên thuyền.

Nhà cô ở Kim Long, cách ngôi nhà rường anh trùng tu chừng mấy trăm bước chân.

Từ đó, tối nào Phong cũng ra bến sông.

Anh mua vé, ngồi ở góc cuối thuyền, nghe cô hát.

Hết buổi, anh đưa cô về, hai người đi bộ dọc bờ sông, che chung cây dù tím.

Nhã kể về mẹ, một người đàn bà tảo tần, góa chồng từ sớm, một mình nuôi cô bằng gánh chè.

Cô kể về những đêm mưa Huế, nằm nghe tiếng mưa rơi trên mái ngói âm dương, nghe tiếng chuông chùa vọng qua sông.

Cô nói, người Huế buồn là tại mưa nhiều, mà thương cũng lâu là tại mưa nhiều.

Phong kể về Sài Gòn, về những tòa nhà kính mọc lên mỗi năm, về giấc mơ được giữ lại những ngôi nhà xưa đang mất dần.

Anh vẽ cho cô ngôi nhà rường anh đang trùng tu, từng cây kèo, từng đường chạm trổ.

Nhã ngồi nhìn anh vẽ, nói, anh vẽ nhà mà như vẽ người, chỗ mô cũng có hồn.

Có một buổi, anh vẽ cô, ngồi ở mũi thuyền, ôm cây đàn nguyệt, mưa bay sau lưng.

Anh không cho cô xem.

Anh nói, khi nào vẽ xong, anh tặng.

Có một điều Phong để ý mà không hỏi.

Cổ tay Nhã lúc nào cũng đeo một chuỗi hạt gỗ nhỏ, màu nâu sẫm, đã bóng lên vì năm tháng.

Sáng mồng một và rằm, cô dậy từ bốn giờ, đi bộ lên một ngôi chùa nhỏ trên đồi thông, thắp nhang rồi mới ra chợ.

Có lần anh đi theo, đứng ở cổng chùa chờ.

Anh nghe tiếng chuông ngân trong sương sớm, thấy cô quỳ rất lâu trước tượng Phật, tay lần chuỗi hạt.