Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Chiếc Áo Dài Bốn Mươi Năm – Tờ Số Đo Ở Phố Cổ Hội An
Chiều hôm đó, phố Hội vừa lên đèn lồng.
Tiệm may nhỏ trên con đường sát sông vẫn còn mở cửa.
Ông Tâm đã ngoài sáu mươi, đeo cặp kính lão, đang ngồi vắt sổ một vạt áo.
Một cô gái trẻ bước vào, nói giọng Sài Gòn, hỏi tiệm có may áo dài cưới không.
Ông gật đầu.
Cô gái mở ví, lấy ra một tờ giấy gấp làm tư, đã ố vàng, mép sờn như vải cũ.
"Bác may giùm con theo số đo này. Con biết nó không phải số đo của con. Nhưng con muốn chiếc áo đúng như vậy."
Ông Tâm mở tờ giấy ra.
Vai, ngực, eo, hông, dài áo, dài tay.
Từng con số viết bằng bút chì, nét chữ nghiêng, đầu chữ số bảy có gạch ngang.
Cây kéo trên tay ông rơi xuống mặt bàn gỗ.
Đó là chữ của ông.
Bốn mươi năm trước, ông đã quỳ dưới chân một cô gái, đo từng số đo đó, cho chiếc áo cưới mà cô chưa bao giờ được mặc.
Cô gái trẻ này là ai?
Vì sao tờ giấy ấy lại nằm trong tay cô?
Và chiếc áo dài màu lam ông cất trong rương suốt bốn mươi năm, cuối cùng sẽ thuộc về ai?
Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, ngồi nghe mình kể nhé.
Bốn mươi năm trước, phố Hội còn vắng lắm.
Chưa có khách du lịch đông như bây giờ, chưa có đèn lồng treo kín các con phố.
Chỉ có những căn nhà gỗ cũ, mái ngói rêu phong, và con sông Hoài lặng lẽ chảy.
Tâm hai mươi bốn tuổi, học nghề may từ năm mười hai tuổi với ông chú.
Ông chú mất, để lại cho anh cái tiệm nhỏ, cây kéo đồng và một bàn may đạp chân.
Anh may khéo nhất phố, nói ít, cười hiền, tay chân lúc nào cũng có vài vết kim đâm.
Bên cạnh tiệm may là một quán nước nhỏ của bà Năm.
Con gái út của bà Năm tên Hạnh.
Hạnh mười chín tuổi, tóc dài tới lưng, đi đâu cũng mang theo một cuốn sách.
Chiều nào cô cũng ngồi ở bậc cửa quán, đọc sách, chờ khách.
Tâm ngồi trong tiệm, cúi xuống bàn may, mà mắt cứ lén nhìn ra bậc cửa nhà bên.
Có một buổi, gió thổi bay trang sách của cô sang tận bậc cửa tiệm may.
Tâm nhặt lên, đưa lại cho cô.
Cô cười, hỏi anh có đọc thơ không.
Anh nói, anh chỉ biết đọc số đo.
Cô cười lớn hơn, nói vậy để Hạnh đọc thơ cho anh nghe, còn anh đo cho Hạnh một chiếc áo.
Từ chiều đó, cô sang tiệm may ngồi đọc thơ.
Anh may, cô đọc.
Tiếng bàn đạp máy may lạch cạch, tiếng cô đọc thơ nhỏ nhẹ, tiếng mưa rơi trên mái ngói.
Có những buổi chiều, cả phố như chỉ còn có hai người.
Tâm thương Hạnh, mà không dám nói.
Anh chỉ là thợ may nghèo, nhà ở nhờ trong tiệm, cả gia tài là một cái bàn may.
Còn nhà bà Năm tuy buôn bán nhỏ, nhưng có họ hàng làm ăn lớn trong Sài Gòn.
Rồi một đêm rằm, phố cổ cúp điện.
Người ta thắp đèn dầu, đèn nến, có nhà thả hoa đăng xuống sông.
Hạnh rủ Tâm ra bến sông thả đèn.
Hai người ngồi trên bậc đá, mỗi người cầm một chiếc hoa đăng giấy.
Hạnh nói, thả đèn thì phải ước.
Cô nhắm mắt, ước một điều, rồi thả đèn trôi.
Tâm hỏi cô ước gì.
Cô nói, nói ra thì không linh.
Rồi cô hỏi lại, còn anh ước gì.
Tâm nhìn chiếc hoa đăng trôi xa, ánh lửa nhỏ lung linh trên mặt nước đen.
Anh nói, anh ước được may cho em một chiếc áo cưới.
Hạnh im lặng rất lâu.
Rồi cô nắm lấy tay anh, bàn tay đầy vết kim đâm.
"Vậy anh đo cho em đi."
Sáng hôm sau, Hạnh sang tiệm may.
Tâm cầm thước dây, tay run tới mức làm rớt thước hai lần.
Anh đo vai, đo ngực, đo eo, đo hông, đo chiều dài áo, chiều dài tay.
Mỗi con số, anh ghi bằng bút chì vào một tờ giấy, nét chữ nghiêng, đầu số bảy có gạch ngang như ông chú dạy.
Hạnh đứng im, nhìn anh quỳ dưới chân mình, mặt đỏ tới mang tai.
Đo xong, anh đưa tờ giấy cho cô coi.