Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Đám Cưới Mùa Nước Nổi – Chiếc Ghe Hoa Quay Đầu
Sáng hôm đó, nước đồng đã lên ngang ngọn cỏ.
Chiếc ghe hoa kết lá dừa, giăng bông giấy đỏ, đậu trước bến nhà ông Ba Thìn.
Pháo nổ. Kèn thổi. Bà con hai họ đứng chật bến.
Cô dâu bước xuống ghe, áo dài đỏ, khăn đóng vàng, mắt cúi xuống, không ai thấy cô đã khóc suốt đêm qua.
Chú rể đứng ở mũi ghe, tay cầm lái.
Ghe nổ máy, rời bến.
Nhưng ra tới ngã ba sông, ghe không quẹo trái về nhà trai.
Ghe quẹo phải.
Chạy thẳng ra giữa đồng nước mênh mông, về phía một điểm trường nhỏ đang ngập tới mái.
Nơi đó, trên một chiếc ghe lá, có một thầy giáo trẻ đang dạy mười mấy đứa học trò đánh vần.
Bà con trên ghe nhốn nháo.
Ông Ba Thìn đứng bật dậy, quát lớn, hỏi chú rể làm cái gì vậy.
Chú rể không trả lời, chỉ siết chặt tay lái.
Vì sao một người đàn ông lại tự tay đưa cô dâu của mình đến với người khác, ngay trong ngày cưới?
Và cái mái chèo cũ khắc chữ treo trên vách nhà ông Ba suốt hai mươi năm, đã giấu một bí mật gì?
Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, ngồi nghe mình kể nhé.
Cù lao đó nằm giữa hai nhánh sông, xa thị trấn cả tiếng đồng hồ đi ghe.
Mùa khô thì ruộng lúa vàng tới chân trời.
Mùa nước nổi thì cả cù lao như một hòn đảo nhỏ giữa biển nước phù sa.
Ông Ba Thìn là người có máu mặt nhất cù lao.
Ông có vựa lúa lớn, có ba chiếc ghe chở hàng, ai trong xóm cũng gọi ông một tiếng chú Ba, dạ thưa đàng hoàng.
Ông nóng tính, nói một là một, nhưng thương người, năm nào lụt cũng mở kho phát gạo.
Vợ ông mất sớm.
Ông chỉ có một đứa con gái, tên Hương.
Hương hai mươi mốt tuổi, học xong trung cấp sư phạm ở tỉnh thì về cù lao, phụ cha coi sổ sách vựa lúa.
Cô hiền, ít nói, mê trẻ con, mê sách vở.
Trên vách nhà ông Ba, ngay trên bàn thờ ông bà, có treo một cây mái chèo gỗ cũ.
Gỗ đã đen bóng, cán có khắc một chữ T, nét khắc sâu, vụng về.
Hồi nhỏ, Hương hỏi cha cây chèo đó của ai.
Ông Ba nói, của ân nhân cứu mạng ba, trận lụt năm hai ngàn.
Hương hỏi ân nhân là ai.
Ông nói, là ba của thằng Lộc.
Rồi ông nhìn cây chèo rất lâu, không nói thêm gì nữa.
Lộc là con trai ông Sáu Bền, bạn thân của ông Ba từ thời trai trẻ.
Nhà ông Sáu chạy ghe buôn, khá giả, ở cù lao bên kia sông.
Trận lụt năm hai ngàn, ông Ba bị nước cuốn khi đi cứu lúa, ông Sáu bơi ghe ra kéo được ông lên.
Từ đó, hai nhà kết nghĩa.
Năm Hương còn đỏ hỏn, hai ông đã ngồi uống rượu, gõ ly hứa với nhau, sau này cho hai đứa nên duyên.
Lời hứa đó, ông Ba giữ suốt hai mươi năm.
Lộc lớn lên đẹp trai, giỏi giang, theo cha chạy ghe buôn khắp miền Tây.
Anh tử tế, lễ phép, mỗi lần qua nhà đều mang quà cho ông Ba, nói chuyện với Hương nhỏ nhẹ.
Ai cũng nói Hương có phước.
Hương cũng nghĩ vậy, cho tới mùa nước nổi năm đó.
Mùa nước năm đó lên sớm và lên cao.
Điểm trường tiểu học ở cuối cù lao ngập tới bậu cửa sổ.
Học trò phải nghỉ, cả tháng không có chỗ học.
Rồi người ta thấy một thầy giáo trẻ, mới về trường được hai năm, mượn một chiếc ghe lá, căng tấm bạt, kê mấy tấm ván làm bàn.
Sáng nào thầy cũng chèo ghe đi từng nhà, đón học trò.
Rồi chèo ra chỗ nước lặng sau rặng gáo, neo lại, dạy chữ ngay trên ghe.
Thầy tên Tín, hai mươi lăm tuổi, mồ côi cha từ nhỏ, sống với má trong một căn chòi lá ở đầu cù lao.
Hương biết chuyện lớp học trên ghe từ đứa cháu nhà hàng xóm.
Một buổi sáng, cô chèo xuồng ra xem.
Giữa đồng nước mênh mông, chiếc ghe lá nhỏ chòng chành, mười mấy đứa nhỏ ngồi chen nhau, đồng thanh đánh vần.
Thầy giáo đứng ở mũi ghe, quần xắn tới gối, cầm cây thước chỉ lên tấm bảng đen dựng tạm.
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm.
Thầy cởi áo mưa của mình, trùm lên mấy đứa nhỏ ngồi ngoài rìa.
Hương ngồi trên xuồng, nhìn, tự nhiên thấy lòng mình ấm lên giữa cơn mưa.
Hôm sau, cô xin vào phụ dạy.
Cô có bằng sư phạm, mà mấy năm nay chỉ cầm sổ sách lúa.
Tín nhìn cô, hơi ngại, rồi cười, nói, vậy cô dạy lớp hai giùm tui, tui lo lớp ba.