Tình Ca kể chuyện · Chuyện Tình Đêm Khuya
Bảy Mùa Mai Anh Đào – Khoảng Trống Bên Trái Tấm Hình
Sáng hôm đó, Đà Lạt còn sương.
Chuông cửa tiệm ảnh nhỏ trên con dốc kêu leng keng.
Thảo ngẩng lên, tưởng là anh.
Nhưng người bước vào là một cô bé chừng bảy tuổi, mặc áo len đỏ, hai tay ôm một phong bì.
Cô bé đứng ở cửa, ngập ngừng, rồi nói một câu khiến Thảo đánh rơi cái máy ảnh xuống bàn.
"Cô ơi, ba con dặn năm nay cô chụp giùm ba một tấm. Mà ba không đứng trong hình được nữa."
Bảy năm.
Bảy mùa mai anh đào.
Năm nào người đàn ông ấy cũng đến đúng tuần hoa nở, ở lại đúng bảy ngày, chụp đúng một tấm hình bên cùng một gốc cây.
Và năm nào anh cũng dặn một câu: "Chừa giùm tôi một khoảng trống bên trái."
Khoảng trống đó dành cho ai?
Vì sao năm nay anh không đến?
Và trong phong bì kia, là điều gì mà bảy năm anh chưa từng dám nói?
Đây là Chuyện Tình Đêm Khuya của Tình Ca. Bạn tắt bớt đèn, nghe mình kể nhé.
Tiệm ảnh của Thảo nằm lưng chừng một con dốc nhỏ gần hồ.
Tiệm cũ, ba cô để lại, có cái tủ kính trưng mấy cái máy ảnh phim, có tấm phông vẽ đồi thông đã bạc màu.
Bây giờ ai cũng chụp bằng điện thoại, khách vào tiệm thưa dần.
Thảo vẫn giữ tiệm, vì cô thương mùi thuốc rửa ảnh, thương cái buồng tối nhỏ phía sau, nơi ba từng cầm tay cô chỉ cách kéo một tấm hình hiện lên từ trang giấy trắng.
Năm đầu tiên anh đến, Thảo hai mươi sáu tuổi.
Đó là cuối tháng Giêng, mai anh đào vừa nở hồng cả mấy con dốc.
Anh bước vào tiệm, áo khoác dạ màu xám, tóc cắt gọn, gương mặt hiền mà buồn.
Anh hỏi tiệm có chụp máy phim không.
Thảo nói có.
Anh nói, anh muốn thuê chụp một tấm, ở một chỗ anh chỉ, bằng máy phim, rửa ra giấy.
Chỗ anh chỉ là một gốc mai anh đào già bên mép hồ, thân cong, nhánh xòe ra mặt nước.
Anh đứng phía bên phải gốc cây, hai tay đút túi áo.
Thảo nheo mắt nhìn qua ống ngắm, định bảo anh đứng vào giữa cho cân.
Anh nói trước.
"Cô chừa giùm tôi một khoảng trống bên trái. Đừng để ai lọt vào chỗ đó."
Cô hơi lạ, nhưng làm theo.
Tách.
Một tấm duy nhất.
Anh trả tiền, để lại địa chỉ ở Sài Gòn, nhờ cô rửa xong gửi về.
Anh tên Minh.
Anh ở Đà Lạt đúng bảy ngày.
Ngày nào anh cũng ra gốc mai đó ngồi một lúc lâu, rồi ghé tiệm cô uống ly trà gừng, hỏi vài câu về máy phim, về ánh sáng, về những tấm hình cũ trên tường.
Ngày thứ bảy, anh chào cô, nói hẹn năm sau.
Thảo cười, nghĩ là một câu xã giao.
Mùa hoa qua, Đà Lạt trở lại với những ngày sương và mưa phùn.
Thảo rửa tấm hình trong buồng tối, đứng nhìn nó hiện lên dần dưới ánh đèn đỏ.
Gốc mai, mặt hồ, người đàn ông áo xám đứng bên phải.
Và một khoảng trống bên trái, trống tới mức cô thấy nó như có hình dáng.
Cô gửi tấm hình về địa chỉ ở Sài Gòn.
Hai tuần sau, cô nhận được một tấm thiệp nhỏ, chữ viết nghiêng, chỉ một dòng: Cảm ơn cô. Tấm hình rất đẹp. Hẹn năm sau.
Thảo kẹp tấm thiệp vào góc gương trong tiệm, rồi quên đi.
Hay cô tưởng mình đã quên.
Năm sau, đúng tuần mai anh đào nở, chuông cửa lại kêu leng keng.
Anh đứng đó, vẫn áo khoác dạ xám, vẫn gương mặt hiền mà buồn, chỉ có thêm vài sợi tóc bạc ở thái dương.
Lại gốc cây cũ.
Lại đứng bên phải.
Lại câu dặn: "Chừa giùm tôi một khoảng trống bên trái."
Và lại bảy ngày.
Năm thứ ba, năm thứ tư, năm nào cũng vậy.
Thảo bắt đầu đếm ngày từ giữa tháng Giêng.
Bắt đầu để ý mấy nụ mai trên dốc, ngóng xem năm nay hoa nở sớm hay muộn.
Bắt đầu pha sẵn ấm trà gừng mỗi sáng trong tuần hoa nở.
Họ nói chuyện nhiều hơn.
Anh kể anh làm kiến trúc sư ở Sài Gòn, công việc bận, cả năm chỉ cho mình đúng một tuần nghỉ.
Anh kể anh thích Đà Lạt vì ở đây sương che bớt những thứ mình không muốn thấy.
Thảo kể về ba cô, về buồng tối, về cái cảm giác chờ một tấm hình hiện lên, như chờ một người đi xa trở về.